Series “H” – Dựa trên các sự kiện lịch sử có thật
Kỳ 1 – H3/H67: BÓNG MA THÀNH SÀI GÒN

Trong thế giới tình báo, nơi của những cuộc chiến ngầm, nơi tiếng súng chưa vang mà máu đã đổ… tồn tại một con người như chiếc kim giữa đống lửa, đi giữa hai làn đạn mà vẫn giữ nụ cười như thể cuộc đời chỉ là một vở kịch. Ông là H3. Là Ba Lễ. Là Ba Nghĩa. Là người đã dùng cả cuộc đời để đánh cờ giữa lòng kẻ thù.
“Nghị sĩ đỏ” giữa lòng địch
Thành phố Sài Gòn những năm 60, dưới ánh đèn vàng của rạp Eden và tiếng jazz rỉ rả từ phòng trà Continental, có một người đàn ông thường bước xuống từ chiếc Citroen mang biển số công vụ, đeo kính Ray-Ban với dáng vẻ của một chính khách quyền uy. Người ta gọi ông là “Nghị viên Ba Lễ” – Chủ tịch Ủy ban Lao động Xã hội Chiến binh của Hạ viện chính quyền Sài Gòn.
Nhưng không ai biết rằng, đằng sau những bộ comple chỉn chu và những cuộc tiếp xúc với sĩ quan Mỹ cao cấp, ông lại là điệp viên H3 của Cụm tình báo chiến lược A20 (H67-J22), dưới quyền chỉ đạo của Thiếu tướng Nguyễn Văn Khiêm – tức Sáu Trí, người anh đã từng gợi mở con đường vào cách mạng cho ông.

Trụ sở Hạ Nghị Viện khởi đầu là 1 nhà hát đầu tiên của miền Nam, sau năm 1955 bị chuyển thành trụ sở Quốc Hội, từ năm 1967 chuyển thành trụ sở Hạ Nghị Viện. Đến sau năm 1976, toà nhà này mới được trả lại đúng công năng là một nhà hát
Ít ai biết rằng, Nguyễn Văn Lễ từng là một trong những sĩ quan cao cấp của ngành cảnh sát Sài Gòn. Năm 1951, ông khởi đầu tại Ty Đặc cảnh miền Đông, được anh rể họ Trần Bá Thành – người sau này là điệp viên H1 dìu dắt
Đến năm 1963, ông giữ chức Chánh Văn phòng đặc biệt kiêm Bí thư Tổng Giám đốc Tổng nha Cảnh sát – vị trí gần như nắm giữ toàn bộ hoạt động nội bộ ngành an ninh thời bấy giờ. Chính trong cái “trung tâm thần kinh” đó, H3 đã lặng lẽ truyền từng mảnh tin ra hậu cứ, làm rối loạn không ít kế hoạch bình định và triệt phá phong trào của địch.
Cũng năm ấy, sau một đêm trò chuyện dưới ánh đèn vàng mờ của một căn phòng ở Chợ Lớn với người anh họ Sáu Trí, ông Ba Lễ chấp nhận bước vào hàng ngũ A20 (Cụm H67 – J22) với mật danh H3. Quyết định ấy, là không đường lui.
30 năm nằm vùng. 30 năm sống trong thế giới của sự hoài nghi và phản trắc. Nhưng H3 chưa bao giờ để lộ thân phận. Trái lại, ông được bầu với số phiếu cao vào Hạ viện, trở thành cây cầu bí mật giữa lòng kẻ thù và cuộc chiến giải phóng.

Chứng minh thư của Điệp viên H3 – Nguyễn Văn Lễ. Thuộc bộ sưu tập L’s Private Collection của nhà sưu tầm Nguyễn Chu Đại Lâm
Chuyến xe màu máu: Ván bài tại Tân Sơn Nhất

Một buổi sáng tháng Chạp năm 1967, khi chiến dịch Mậu Thân đang được chuẩn bị trong bóng tối, H3 nhận chỉ thị từ cấp trên: đưa Tư lệnh Sư đoàn 9 – ông Nguyễn Thế Truyện (Năm Truyện) – vào thị sát các mục tiêu trọng yếu tại Sài Gòn, khu vực Bộ Tổng Tham mưu và sân bay Tân Sơn Nhất.
Thay vì sử dụng xe công vụ quen thuộc, H3 mượn chiếc xe màu đỏ máu của Sáu Hoa – Thiếu tá tình báo Việt Nam Cộng hòa, một tay sát cộng khét tiếng. Sáu Hoa từng vỗ ngực tự đắc: “Xe tao là màu máu cộng sản. Ở cái đất Sài Gòn này, chẳng ai giết cộng giỏi như tao.” Nào ngờ chính chiếc xe “khét tiếng” đó lại là tấm bình phong đưa các sĩ quan Việt cộng đi điều nghiên chiến trường.
Sau khi thị sát khu vực phía Bắc Sài Gòn, Bộ Tổng Tham mưu và vành đai Tân Sơn Nhất, ông Năm Truyện đề nghị vào tận sân bay để khảo sát. Tình cờ, cùng thời gian này, một thượng nghị sĩ Đài Loan – bạn của H3 – đến Sài Gòn. Nhân cơ hội, H3 liên lạc với chỉ huy phó phi trường Tân Sơn Nhất đề nghị hỗ trợ nghi thức nghênh tiếp. Lịch bay buổi chiều nhưng H3 cố ý đến vào buổi sáng, lấy cớ nhầm giờ bay để Năm Truyện và Bảy Vĩnh có nhiều thời gian quan sát mục tiêu. Chuyến thị sát đã thành công ngoài mong đợi.
Phước Long!

Mùa khô năm 1967. Trời Phước Long xanh rách như tấm vải lính, bị phơi quá nhiều lần giữa chảo lửa miền Đông. Từ phi trường Tân Sơn Nhứt, một chiếc máy bay L-19 Bird Dog chầm chậm lăn bánh ra đường băng. Bên trong, phi công người Mỹ tóc vàng, ngậm điếu xì-gà cháy dở, mắt đảo liên tục như loài chim săn mồi. Ngồi ghế sau, Ông là Nguyễn Văn Lễ vận comple đen, mái tóc được chải kỹ lưỡng, lặng lẽ quan sát bản đồ khu vực đặt trên đùi.
Chiếc máy bay cất cánh, lượn vòng trên bầu trời Phước Long. Từ trên cao, H3 nhìn thấy trục đường tiếp vận chạy dọc quốc lộ 14, những trại lính dã chiến, điểm đặt pháo, lô cốt bê tông, và cả vị trí các kho đạn được nguy trang dưới tán cao su già.
– “Quẹo trái một chút”, ông nhắc khẽ bằng tiếng Anh, giọng nhỏ nhẹ mà kiên quyết. Phi công Mỹ nhíu mày nhưng nghe theo. Không ai ngờ, người đàn ông lịch lãm phía sau đang âm thầm vẽ lại toàn bộ sơ đồ bố trí binh lực của tiểu khu Phước Long trong trí nhớ – như một kiến trúc sư vẽ nhà.
Khi hạ cánh, một chiếc xe Jeep có gắn cờ ba sọc và biển số đặc biệt của tỉnh trưởng đã chờ sẵn. Một sĩ quan ngụy cung kính mở cửa:
– “Thưa Nghị sĩ, xe chuẩn bị sẵn cho ngài đi thị sát các trại thương binh.”
H3 gật đầu, nụ cười nhàn nhạt lướt qua môi. Ông ngồi vào ghế, không vội, mở sổ tay, lật trang có ghi chú bằng mực xanh nhạt: “Kho 31, căn cứ Vĩnh Hưng, trại 45 gần chùa cũ, điểm súng cối sau bãi mía…”
Trong vòng hai giờ tiếp theo, ông đi khắp nơi: từ trụ sở phòng thủ, trại binh, đồn lính biệt kích, đến kho hậu cần. Không ai nghi ngờ gì. Ông là “người của chính quyền”, nghị sĩ “có tâm với thương binh và gia đình tử sĩ”. Ông còn khéo léo trao đổi vài lời ân cần với chỉ huy tiểu khu, hỏi han sĩ quan địa phương với giọng thông cảm:
– “Phòng thủ khu vực rừng giáp biên phía Bắc ổn không, trung úy? Tôi nghe nói Việt cộng hay đột nhập từ đó…”
Câu hỏi tưởng vu vơ ấy chính là cái bẫy khôn ngoan – để lấy lời xác nhận từ chính sĩ quan địch về hướng yếu phòng thủ, đường mòn dân sinh không kiểm soát, và tầm hoạt động pháo binh.
Tối hôm đó, khi về tới Sài Gòn. H3 bước vào phòng làm việc, ông lật tấm bản đồ quân sự Phước Long, lấy bút chì ra và bắt đầu đánh dấu:
• Ký hiệu hình tam giác: chốt chỉ huy trung tâm.
• Ký hiệu hình chữ L: tuyến pháo phòng thủ.
• Chấm đen: kho đạn, xăng dầu.
• Mũi tên đỏ: tuyến hành quân thuận lợi của ta.
Sáng hôm sau, bản đồ được gấp cẩn thận, giấu trong lớp bìa một tập tài liệu. Người trợ lý riêng – ông Bảy Vĩnh – mang tập tài liệu ấy sang một văn phòng luật bên đường Lê Thánh Tôn, nơi có một máy chụp hình mini kiểu Đức được giấu dưới gầm bàn.
Một bản đồ chiến lược hoàn chỉnh của tiểu khu Phước Long – do chính Mỹ vẽ và điều chỉnh lại bằng mắt của một điệp viên Cộng sản – đã rời khỏi trung tâm quyền lực địch trong sự thản nhiên tuyệt đối.
Căn nhà số 43 đường Phan Thanh Giản – “Pháo đài vô hình” giữa lòng đô thị
Giữa thập niên 1960, con đường Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ, quận 3, TP.HCM) là nơi cư ngụ của nhiều nhân vật cao cấp trong bộ máy chính quyền Sài Gòn. Nhưng tại số nhà 43, ẩn sau cánh cổng gỗ đơn sơ và tán cây bàng lặng lẽ, là một thế giới hoàn toàn khác – nơi chiến trường không có tiếng súng, nhưng mọi quyết định bên trong nó đều ảnh hưởng đến cả cục diện chiến tranh.
Đó là nhà riêng của điệp viên Nguyễn Văn Lễ (H3) – người khi bước ra ngoài là một nghị sĩ uy tín, có quan hệ rộng từ Quốc hội đến giới tướng lĩnh, nhưng khi cánh cửa khép lại, ông trở về đúng bản chất: một chiến sĩ tình báo của cách mạng, đang điều phối cả một mạng lưới nằm vùng phức tạp và nguy hiểm bậc nhất.

Đồng chí Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Đài trưởng đài Sài Gòn 2 (đặt tại nhà ông Ba Lễ), làm nhiệm vụ phát tin tức về Trung ương Cục miền Nam phục vụ chiến dịch Mậu Thân năm 1968
Nhà riêng nhưng không hề “riêng”
Căn nhà gồm hai tầng, không có gì nổi bật – thậm chí có phần cũ kỹ. Nhưng bên trong, tầng trệt được thiết kế lại một căn hầm bí mật chứa tới hàng chục kiện vũ khí nhỏ gọn, gồm:
• AK, K54, M16…
• B-40, B-41
• Lựu đạn & thuốc nổ các loại
• … và nhiều vũ khí khác
Toàn bộ được bọc kỹ lưỡng trong các thùng gỗ ngụy trang.

Đồng chí Bảy Vĩnh (Lê Văn Vĩnh) bên trái & đồng chí Ba Lễ bên phải, trong căn hầm vũ khí
Ở gian phía sau tầng hai, là nơi trú ẩn tạm thời của các cán bộ cấp cao từ Trung ương Cục miền Nam được đưa vào nội đô. Trong các chiến dịch lớn như Tết Mậu Thân 1968, đại thắng mùa Xuân 1975, căn nhà này từng giấu hàng chục lượt cán bộ, chỉ huy cấp sư đoàn, những người trực tiếp lên kế hoạch đánh vào Bộ Tổng Tham mưu, Dinh Độc Lập, Tổng nha Cảnh sát…
Căn nhà này từng là nơi ông Năm Truyện (Nguyễn Thế Truyện) – Tư lệnh Sư đoàn 9 – ngủ qua đêm ngay trước khi ông đích thân khảo sát Tân Sơn Nhất trong kế hoạch Tổng công kích.
Mỗi ngày, ông Ba Lễ vẫn ra vào Quốc hội, dự họp, tranh luận về “phúc lợi chiến binh”, “phát triển nhân đạo hậu phương chiến tranh”. Nhưng trong lúc tay ông cầm cặp da, bên trong lại cất một microfilm chứa tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Sài Gòn, hoặc bản sao kế hoạch di chuyển của các đơn vị biệt động quân.
Căn nhà số 43 chính là nơi ông đặt một máy vô tuyến, chuyển đi các tài liệu mà ông thu thập được.
Cổng sau của căn nhà thông ra một hẻm nhỏ – nơi những giao liên là học sinh, sinh viên, bác sĩ, hoặc tài xế taxi lần lượt ra vào như những người hàng xóm bình thường. Tất cả đều qua mặt được an ninh Sài Gòn, bởi chẳng ai ngờ một nghị sĩ nổi tiếng chống cộng cực đoan như Nguyễn Văn Lễ lại là trung tâm của một mạng lưới tình báo cộng sản.
“Tại số nhà đó, vũ khí được vận chuyển vào bằng xe công vụ có giấy ưu tiên Quốc hội, rồi được chính ông Lễ và người nhà cất giấu kỹ lưỡng. Đến hẹn, vũ khí lại được chuyển ra chiến trường bằng chính những chiếc xe biển số xanh, do tài
xế mang quân hàm địch cầm lái.”
— Trích lời kể của tình báo viên Bảy Vĩnh.

Cụm tình báo H67 trong chiến dịch Mậu Thân tại nhà đồng chí Ba Lễ (điệp viên H3 – dân biểu Sài Gòn)
Cảnh báo kịp thời, cứu cơ quan đầu não Bộ Tư lệnh Miền khỏi cuộc tập kích B-52
Đầu năm 1969, điệp viên H3 thu thập được một bản tin tối mật từ cơ quan tình báo hỗn hợp Việt – Mỹ, ghi lại lời khai của một cán bộ ta bị bắt. Tên này đã tiết lộ chi tiết về vị trí đóng quân của các cơ quan đầu não như Cục Chính trị, Cục Tham mưu và Quân ủy Miền tại khu rừng Sóc Mông, Tây Ninh. Nhận thấy nguy cơ bị không quân Mỹ tập kích, H3 lập tức chuyển tin về Phòng Tình báo chiến lược Miền. Nhờ đó, toàn bộ cơ quan Bộ Tư lệnh Miền đã kịp thời di chuyển, tránh được trận ném bom rải thảm kéo dài suốt đêm của máy bay B-52
Hồi kết của một huyền thoại sống
“Làm tình báo là diễn. Nhưng không được diễn để sống sót. Phải diễn để chiến thắng.” – một câu nói ông thường nhắc lại trong những năm tháng về già, như thể mỗi vai diễn mà ông từng thủ vai đều là những dấu chấm hết cho một âm mưu kẻ địch.
Trong suốt ba thập kỷ, giữa lòng Sài Gòn đầy biến động, nơi mỗi con hẻm có thể là cái bẫy, mỗi ánh mắt có thể là lưỡi dao, Nguyễn Văn Lễ – điệp viên H3 – đã âm thầm bước đi như một chiếc bóng không hình, một cơn gió không tiếng. Ông không mang súng trên vai hay quân hàm sáng chói, nhưng mỗi bước chân ông đi qua là một dấu ấn sâu đậm trong cuộc trường chinh tình báo giữa lòng địch.

Cụm tình báo chiến lược H67-J22 (A20)
Dai Lam – 2212 Vietnam
